Bài viết

Hệ số dịch vụ nợ: nó là gì và cách tính toán nó

69

Hệ số dịch vụ nợ là một cách tính toán khả năng thanh toán các khoản nợ của một doanh nghiệp. Nó so sánh thu nhập với các nghĩa vụ liên quan đến nợ. Các chủ ngân hàng thường tính toán tỷ lệ này như một phần trong quá trình xem xét có chấp thuận các khoản vay kinh doanh hay không.

Tìm hiểu cách tính tỷ lệ này và tại sao tỷ lệ này lại quan trọng.

Tỷ lệ nợ dịch vụ là gì?

Tỷ lệ dịch vụ nợ (còn được gọi là tỷ lệ bao phủ dịch vụ nợ) so sánh thu nhập hoạt động của một thực thể với các khoản nợ phải trả của đơn vị đó. Việc thể hiện mối quan hệ này dưới dạng một tỷ lệ cho phép các nhà phân tích nhanh chóng đánh giá khả năng trả nợ của một công ty, bao gồm bất kỳ trái phiếu, khoản vay hoặc hạn mức tín dụng nào. Đó là một tính toán đặc biệt quan trọng đối với các chủ ngân hàng, những người có thể đang quyết định có cho phép các doanh nghiệp vay thêm nợ hay không.

Tỷ lệ được đặt tên từ dịch vụ nợ, là số tiền cần thiết để trả nợ trong một khoảng thời gian. Khung thời gian phổ biến cho dịch vụ nợ là một năm.

Ví dụ: nếu bạn có một khoản vay 100.000 đô la với lãi suất 6% trong 10 năm, dịch vụ nợ có thể được đo lường bằng cách trả 1.110,21 đô la trong 12 tháng. Nói cách khác, khoản thanh toán gốc và lãi hàng năm của bạn cho khoản vay này là $ 13.322,52.

Có thể bạn quan tâm  Doanh nghiệp vừa và nhỏ: họ là gì?

Làm thế nào để bạn tính toán tỷ lệ nợ dịch vụ?

Để tính toán tỷ lệ dịch vụ nợ, hãy chia thu nhập hoạt động ròng của một công ty cho khả năng cung cấp dịch vụ nợ của nó. Điều này thường được thực hiện hàng năm, vì vậy nó so sánh thu nhập hoạt động ròng hàng năm với dịch vụ nợ hàng năm, nhưng có thể được thực hiện vào bất kỳ khung thời gian nào.

Tỷ lệ dịch vụ nợ hoạt động như thế nào?

Để hiểu rõ hơn về các tỷ lệ dịch vụ nợ, hãy xem xét ví dụ này. Một doanh nghiệp có hai khoản vay ngắn hạn (bao gồm cả gốc và lãi) với tổng số tiền là 100.000 USD. Công ty cũng cho thuê một chiếc ô tô của công ty và trả $ 8.000 một năm. Kết quả là tổng dịch vụ nợ hàng năm của công ty là 108.000 đô la.

Năm ngoái, công ty có thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh là 156.000 đô la. Chia 156.000 đô la cho 108.000 đô la và bạn nhận được tỷ lệ nợ phải trả là 1,44.

Bạn có thể tính thu nhập hoạt động ròng của công ty – còn được gọi là thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT) – bằng cách trừ đi chi phí trực tiếp và gián tiếp từ tổng doanh thu.

Một kết quả là tỷ lệ thấp nhất mà một công ty có thể có trước khi bắt đầu hoạt động bị thua lỗ. Tỷ lệ 1: 1 này có nghĩa là tất cả thu nhập ròng của công ty trong một năm cần được sử dụng để trả nợ hiện có. Ví dụ, nếu kết quả của công thức giảm xuống 0,8, thì điều đó có nghĩa là một công ty có thể sử dụng tất cả thu nhập ròng của mình để trả nợ, trong khi công ty chỉ có thể trả 80% nợ của mình.

Có thể bạn quan tâm  7 bí mật để thành công trong các tòa án khiếu nại nhỏ

Chìa khóa quan trọng đối với tín dụng kinh doanh

Khả năng thanh toán là một trong bốn điểm C của tín dụng kinh doanh (vốn, tài sản thế chấp, năng lực và đặc tính) – “khả năng” hoàn trả một khoản vay. Phép đo Khả năng trả nợ xác minh rằng một doanh nghiệp có thể tạo ra doanh thu để trả các khoản vay, cho thuê kinh doanh và các khoản nợ khác.

Người cho vay sẽ chỉ vay tiền từ doanh nghiệp của bạn nếu có một kỳ vọng hợp lý rằng khoản vay sẽ được hoàn trả. Một trong những yếu tố chính để trả nợ là khoản nợ hiện tại của người đi vay. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của bạn cũng sẽ cho thấy điều này, nhưng nhiều người cho vay thấy dịch vụ nợ là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng trả nợ.

Các ngân hàng và các tổ chức cho vay khác muốn bạn liệt kê dịch vụ nợ một cách riêng biệt trên báo cáo lãi và lỗ (P&L) của mình. Dịch vụ nợ được coi là một khoản chi phí hiện tại cho doanh nghiệp của bạn. Liệt kê dịch vụ nợ như một khoản chi phí cho thấy cách nó cộng dồn vào các chi phí khác và so sánh với số tiền doanh nghiệp của bạn sẽ kiếm được mỗi tháng.

Đối với mục đích đánh thuế thu nhập, lãi cho vay kinh doanh (và các khoản thanh toán cho một số khoản thuê vốn nhất định) được coi là chi phí kinh doanh được trừ. Vốn vay không phải là chi phí kinh doanh được trừ.

Có thể bạn quan tâm  Chi phí cố định và chi phí biến đổi trong hoạt động kinh doanh

Giới hạn tỷ lệ dịch vụ nợ

Một hạn chế của hệ số dịch vụ nợ là nó không áp dụng cho các doanh nghiệp mới. Doanh nghiệp mới sẽ không có hồ sơ về thu nhập ròng, vì vậy bất kỳ tính toán tỷ lệ nợ nào cũng sẽ cho thấy không có khả năng trả nợ. Kết quả là, các doanh nghiệp này có thể gặp khó khăn trong việc vay vốn kinh doanh và họ có thể phải tìm kiếm nguồn tài chính sáng tạo cho đến khi chứng minh được thu nhập ròng đủ để bù đắp các khoản trả nợ.

Mặc dù trả nợ có thể là một phần lớn trong chi tiêu của doanh nghiệp, nhưng đó không phải là chi phí duy nhất. Thu nhập hoạt động thuần tính cho các chi phí này và do đó không ảnh hưởng đến tính chính xác của các tỷ lệ dịch vụ nợ. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ phải trả không cho bạn biết nhiều chi tiết về chi phí của doanh nghiệp. Đối với các nhà phân tích muốn đi sâu vào các khoản phí, họ cần sử dụng các phép tính và phép đo khác.

những điều quan trọng

  • Tỷ lệ dịch vụ nợ so sánh thu nhập hoạt động ròng của một doanh nghiệp với các nghĩa vụ liên quan đến nợ của nó.

Kết quả của nhiều hơn một cho biết khả năng trả nợ và vẫn có lãi, và kết quả nhỏ hơn một cho thấy không có khả năng trả nợ. Cách tính này thường được sử dụng nhiều nhất trong quy trình đăng ký khoản vay – nơi người cho vay muốn đảm bảo người đi vay có thể trả nợ.

0 ( 0 bình chọn )

Viet Dream Up

https://vietdu.vn
Viet Dream Up - Thông tin hữu ích cho doanh nghiệp

Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm