Chi tiết ấn phẩm

Hiện nay, nhiều công ty quản lý quỹ (CtyQLQ) đã chú trọng đến các yếu tố ESG trong phân tích hoạt động và tiềm năng của doanh nghiệp, trong đó tập trung vào những thông tin chi tiết về chất lượng công tác quản lý, văn hóa, các yếu tố rủi ro và các đặc điểm khác của doanh nghiệp. ESG Managers Portfolios, một công ty quản lý các quỹ đầu tư toàn cầu đã đưa ra các dấu hiệu nhận biết một doanh nghiệp tốt là đáp ứng được các tiêu chí ESG ở mức cao như sau:

•- Là doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực hoạt động;

•- Được quản lý tốt và có những dự định tốt hướng tới tương lai;

•- Dự đoán và giảm thiểu rủi ro tốt;

•- Đáp ứng những tiêu chuẩn tích cực về trách nhiệm của doanh nghiệp;

•- Trọng tâm phát triển công ty được tập trung trong dài hạn.

Những đặc điểm của một doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí ESG như trên giúp cho việc phân tích các chỉ số hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá giá trị của một doanh nghiệp được thuận lợi hơn để từ đó có quyết định đúng đắn với giá cổ phiếu, ra quyết định đầu tư góp vốn tốt hơn. Các yếu tố ESG được phân chia thành 3 nhóm yếu tố chính là E (Môi trường), S (Xã hội) và G (Quản trị). Mỗi nhóm yếu tố chính tiếp tục được phân loại thành nhiều yếu tố nhỏ hơn và được chia thành hai phần đánh giá là: đánh giá hoạt động và đánh giá tác động tiềm tàng (xem Bảng 1).

Bộ phận nghiên cứu của Goldman Sachs, Innovest và một số doanh nghiệp khác đã chỉ ra những lợi ích đong đếm được trên thực tế trong dài hạn nếu quan tâm đến các yếu tố ESG trong hoạt động đầu tư (xem Bảng 2).

Năm 2006, Dự án về môi trường của Liên hợp quốc đã tập trung nghiên cứu về lợi ích của việc lồng ghép các yếu tố ESG vào quá trình phân tích lợi nhuận của doanh nghiệp, giá cổ phiếu, tình hình tài chính của doanh nghiệp và từ đó nhận biết một cách toàn diện giá trị của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu được thể hiện bằng một bản báo cáo. Báo cáo này phân tích các sản phẩm tài chính trong mối tương quan với tính chất “xanh” hay nói cách khác là tính bền vững, trong đó có nghiên cứu liên quan đến thị trường bất động sản (BĐS). Tính “xanh” được đánh giá có tác động tiêu cực hay tích cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp chính là yếu tố then chốt để chủ sở hữu BĐS có mặn mà với các sáng kiến xanh/bền vững hay không. Trong trường hợp này, việc mua bán BĐS trao tay không được tính đến mà chỉ xem xét hoạt động của các Quỹ Tín thác BĐS. Ví dụ, tại Australia là mô hình Listed Property Trusts – LPTs. LPTs là một mô hình quỹ đầu tư tại Australia chuyên đầu tư trong lĩnh vực BĐS được niêm yết trên các thị trường khác nhau trên thế giới. BĐS là một loại tài sản đặc biệt mà khi mở rộng quy mô phải đi kèm với nâng cao chất lượng, nếu không ảnh hưởng của việc mở rộng quy mô với môi trường, đời sống xã hội sẽ là rất lớn. Chính vì vậy, các quỹ LPTs tại Australia ngày càng chú trọng tới tính “xanh” trong danh mục đầu tư của mình. Một số lợi ích sau khiến các quỹ LPTs theo đuổi chính sách xanh/bền vững:

– Giá trị thương hiệu khi được “gắn mác” xanh/bền vững;

– Khả năng thu hút và giữ chân khách hàng, nhờ đó mà tăng nhanh thu nhập;

– Hạ chi phí nhờ giảm khí thải nhà kính và sử dụng nước tiết kiệm;

– Tiềm năng cơ sở nhà đầu tư tăng;

-•Những lợi ích kể trên kết hợp với một tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) hợp lý sẽ khiến các chính sách xanh/bền vững trở nên thuyết phục hơn.

Bản báo cáo đánh giá mức độ bền vững của ngành BĐS bằng cách tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm đối với các phân khúc: BĐS văn phòng, BĐS trung tâm thương mại và BĐS nhà ở.

Đối với phân khúc nhà ở, công ty BĐS Investa theo tính toán đã tiết kiệm được 600.000 đô la Úc chi phí (tương đương 9,6 tỷ đồng) mỗi năm do giảm chi phí sử dụng năng lượng. Ngoài ra, Công ty Investa còn khuyến khích người mua nhà tham gia chương trình “Đảm bảo không có hiệu ứng phát thải nhà kính của Investa”, chương trình này nhằm khuyến khích người mua/thuê nhà tự tiết kiệm chi phí sử dụng năng lượng của nhà mình trong 1 năm từ 20 – 30% và chi phí được tiết kiệm này sẽ được Công ty trừ vào hóa đơn sử dụng năng lượng của người mua/thuê nhà vào cuối năm. Đối với phân khúc BĐS cho thuê cửa hàng kinh doanh, một công ty BĐS khác của Australia là Tập đoàn GPT đã tiết kiệm được 17,5 đô la Úc/m2 chi phí sử dụng năng lượng và nước sạch.

Rất khó để lượng hóa được tác động về mặt xã hội khi đo lường tính bền vững trong giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản báo cáo cũng nhấn mạnh rằng, một quỹ BĐS muốn gia nhập rổ cổ phiếu/chứng chỉ quỹ đại diện tính chỉ số xanh như Chỉ số Bền vững Dow Jones (Dow Jones Sustainability Index) thì quỹ đó phải chứng minh được lợi ích lan tỏa khi quỹ tiếp cận và mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

Nói đến đây, chúng ta xem xét các doanh nghiệp hoạt động với tư cách các nhà thầu. Nói đến hình thức đấu thầu, mua sắm tài sản gắn với trách nhiệm doanh nghiệp, thế giới gọi hình thức đấu thầu này là đấu thầu mua sắm lồng ghép trách nhiệm doanh nghiệp (Responsible Procurement). Tại các doanh nghiệp ở Anh hay Singapore, hoạt động đấu thầu, mua sắm tài sản công thường được gắn với trách nhiệm về xã hội, môi trường và kinh tế của doanh nghiệp để nhằm mục đích cải thiện chất lượng cuộc sống và đem lại những giá trị tốt hơn cho những người nộp thuế, cho người dân nói chung và cho chính cộng đồng doanh nghiệp, cho đất nước.

Đối chiếu với Luật Đấu thầu, mua sắm tài sản công của Việt Nam, căn cứ Luật Đấu thầu 2013, Luật Đầu tư công 2014 và Luật Đầu tư 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư. Nghị định đã có những quy định về lựa chọn nhà đầu tư trong việc thực hiện các dự án PPP (đối tác công – tư) trên tinh thần bảo đảm “công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”.

Như vậy, với kinh nghiệm của Úc, Anh và Singapore ở trên, có thể thấy, tuy hướng tới tất cả các mục tiêu là môi trường, xã hội hay thay đổi công tác quản trị doanh nghiệp để “xanh hóa” hoạt động của doanh nghiệp đều khiến doanh nghiệp phải bỏ chi phí, nhưng trong dài hạn, doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều lợi ích, đặc biệt trong trung và dài hạn sẽ có 3 lợi ích sau:

– Tiết kiệm chi phí sử dụng năng lượng và nước (có thể là chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp), từ đó góp phần làm tăng lợi nhuận;

– Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực mà đối tác là Chính phủ, các cơ quan nhà nước thì khả năng trúng thầu và “thắng” các hợp đồng là rất lớn;

– Thương hiệu “xanh” của doanh nghiệp có giá trị lớn về mặt thương mại, hình ảnh và tạo được niềm tin, sự an tâm cho người tiêu dùng.

Theo báo cáo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính kém hiệu quả trong đầu tư và đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhà nước là do sử dụng quá mức các yếu tố đầu vào cho sản xuất nhưng hiệu quả đầu ra thấp. Mức độ tập trung cạnh tranh thấp tạo ra bởi cơ cấu chính sách độc quyền có lợi cho các tập đoàn nhà nước. Nền kinh tế ít có đổi mới trong khi giá trị gia tăng trong xuất khẩu rất thấp. Khu vực tài chính – sau khi thị trường BĐS suy sụp – đã bị ảnh hưởng mạnh. Mức tăng trưởng kinh tế mạnh trong những năm trước đã phải trả giá bằng việc sử dụng nhiều tài nguyên một cách kém hiệu quả và tình trạng môi trường bị tổn hại ngày càng tăng. Việc sử dụng năng lượng kém hiệu quả cho quá trình tăng trưởng được thể hiện rõ nét qua tỷ lệ giữa mức độ phát thải hiệu ứng nhà kính tính trên một đô la Mỹ (USD) của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tại Việt Nam, tỷ lệ này của Việt Nam vào năm 2008 là khoảng 1,85 kg/USD và từ đó không ngừng tăng cao. Trong khi đó, tại Đức tỷ lệ này chỉ là 0,38 kg/USD.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa gắn với hiệu quả trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thể hiện ở những tác động tiêu cực tới hệ sinh thái và chính các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điển hình là lĩnh vực khai thác khoáng sản. Tính đến thời điểm đầu năm 2015, trên Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) Tp. HCM có 13 CtyNY, SGDCK Hà Nội có 23 CtyNY hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng, chưa kể còn hàng nghìn điểm mỏ nhỏ lẻ khắp đất nước (thống kê có trên 5.000 điểm mỏ). Thế nhưng, đặc điểm của khai thác khoáng sản ở Việt Nam là khai thác quặng thô và xuất khẩu, chưa chú ý đến việc bảo vệ môi trường. Các CtyNY trên hai SGDCK cũng không phải tuân thủ quy định nào về tiêu chuẩn niêm yết “xanh”, báo cáo, công bố thông tin (CBTT) về phát triển bền vững. Hệ sinh thái tự nhiên của các vùng miền ở Việt Nam bị xói mòn do hoạt động khai thác khoáng sản: vùng Đông Bắc (than), Tây Nguyên (bô – xít), Bình Thuận (titan)… kéo theo nhiều hệ lụy.

Để khắc phục tình trạng này, đồng thời nhằm nâng cao chất lượng của các CtyNY trên TTCK, Thông tư số 1551 mới ban hành về CBTT trên TTCK đã quy định các CtyĐC phải lập báo cáo thường niên theo Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư này và thông tin tài chính trong báo cáo thường niên phải phù hợp với báo cáo tài chính năm được kiểm toán.

Như vậy, ta có thể thấy, đối chiếu với bộ tiêu chí về ESG mà CtyQLQ ESG Managers Portforlios công bố, thì các yêu cầu pháp lý bắt buộc CtyĐC phải lập và công bố báo cáo phát triển bền vững đã phần nào đề ra cụ thể nội dung gọi là các tiêu chuẩn về ESG. Tuy nhiên, để quy định tại Thông tư 155 rõ ràng hơn, cần có hướng dẫn cụ thể về các nội dung chi tiết trong báo cáo. Ví dụ “báo cáo liên quan đến hoạt động thị trường vốn xanh theo hướng dẫn của UBCKNN” đòi hỏi UBCKNN phải có hướng dẫn cụ thể về thị trường vốn xanh, doanh nghiệp có thể đóng góp gì cho thị trường vốn xanh và báo cáo những nội dung “xanh” như thế nào.

Liên quan đến việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm tài chính xanh, mà cụ thể là sản phẩm trái phiếu xanh (SGDCK Hà Nội), chỉ số phát triển bền vững (SGDCK Tp. HCM), thì còn rất nhiều việc hai Sở cần phải làm. Đối với sản phẩm trái phiếu xanh, mà trước mắt là các sản phẩm trái phiếu Chính phủ xanh và trái phiếu xanh được Chính phủ bảo lãnh, việc hoạch định kế hoạch ngân sách “xanh” để chuẩn bị phát hành trái phiếu là vô cùng quan trọng. Phạm vi bài báo này chỉ đưa ra khuyến nghị về việc áp dụng các tiêu chuẩn niêm yết “xanh” và các tiêu chí ESG áp dụng vào việc nghiên cứu hình thành chỉ số phát triển bền vững mà SGDCK Tp. HCM đang nghiên cứu.

Trên thế giới, chỉ số Dow Jones bền vững toàn cầu (Dow Jones Sustainability World Index – DJSI) ra mắt lần đầu vào năm 1999, là chỉ số bền vững chuẩn đầu tiên. Nhóm chỉ số DJSI do hai công ty RobecoSAM và S&P Dow Jones Indices là đồng sáng lập. Nhóm chỉ số phản ánh sự biến động giá của các cổ phiếu trong rổ đại diện, công ty có cổ phiếu nằm trong rổ đại diện là các công ty hàng đầu thế giới được xét căn cứ dựa trên các tiêu chí về kinh tế, môi trường và xã hội. Nhóm chỉ số DJSI là các chỉ số chuẩn để các nhà đầu tư quan tâm đến tính bền vững có thể căn cứ vào đó để ra quyết định đầu tư, các CtyQLQ tư vấn cho khách hàng và những doanh nghiệp muốn cải thiện tính “xanh” và bền vững của doanh nghiệp mình. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy DJSI được lập dựa trên các yếu tố về E – Economic, E – Environmental và S – Social (EES), thay vì ESG. Thế nhưng thực chất các yếu tố E – Economic ở đây rộng hơn yếu tố G – Governance ở trong nhóm ESG. Nhóm chỉ số DJSI bao gồm các chỉ số chuẩn với rổ đại diện là cổ phiếu của các công ty lớn trên toàn cầu, của một vùng, của một quốc gia. DJSI được thiết kế mở, các công ty tạo chỉ số luôn sẵn sàng thiết kế một chỉ số chuẩn DJSI mới cho các nhà đầu tư có nhu cầu.

Quay lại việc lựa chọn cổ phiếu niêm yết trên SGDCK Tp. HCM để đưa vào rổ đại diện chỉ số phát triển bền vững, bên cạnh các điều kiện cần như khối lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free – floating), thanh khoản, đủ điều kiện theo đánh giá các tiêu chí ESG… SGDCK Tp. HCM cần dựa vào chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 (Quyết định 13932 và Quyết định 4033), Thông tư 155, để sửa đổi, bổ sung Quy chế niêm yết, đưa vào các yêu cầu, quy định về niêm yết xanh, liệt kê các quy định chi tiết về báo cáo, CBTT liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phát triển bền vững. Trong báo cáo thường niên của SGDCK, nội dung liên quan đến số lượng công ty tuân thủ/vi phạm quy định về báo cáo, CBTT cần chỉ rõ số lượng công ty, số lần vi phạm của công ty đối với các quy định về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, phát triển bền vững.

Viết một bình luận